Tháp Bà Po Nagar – Kinh nghiệm tham quan (2019)

0
211

Một trong những điểm du lịch tại thành phố biển Nha Trang được nhiều du khách tìm đến khi về đây chính là tháp Bà Po Nagar. Một đền tháp nổi tiếng trong những đền tháp nổi tiếng ở Việt Nam được người Champa xưa xây dựng tại vùng Khauchra (Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay). Một đền tháp có vẻ đẹp huyền bí chưa lời giải mã và một giá trị to lớn về văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật và lịch sử.

Sơ nét về tên gọi, lịch sử xây dựng tháp Bà Po Nagar

Tháp bà Po Nagar

Theo như ghi chép trong tài liệu nghiên cứu “Tháp cổ Champa” của PGS.TS Ngô Văn Doanh thì tháp Bà Po Nagar được xây dựng vào khoảng thế kỷ VII, và liên tục tu bổ hoàn thành đến thế kỷ XIII. Năm xây được cho là năm 813 – 817. Người khởi công xây dựng công trình này là Hoàn Vương quốc, hay còn gọi là vua Harivarman I trị vị ChamPa trong khoảng thế kỷ VIII.

Tổng công trình đền tháp được xây dựng trên ngọn đồi nhỏ có độ cao khoảng 12m của dãy núi Cù Lao có dòng sông Cái thơ mộng chảy qua hiện thuộc  phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang (Aia Trang – Khauchra xưa) và cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng chừng 2km.

Thực chất, tên gọi chính xác và đầy đủ của tháp Bà Po Nagar là Yang Po Inư Nagar hay Yang Pô Ana Gar (Inư, Ana trong tiếng Chăm, Eđê, Jarai có nghĩa là giống Cái, tên đầy đủ là Po Inư Nagar, hay còn gọi là Po Anagar). Tuy nhiên, người ta quen và dùng tên gọi Ponagar (người Việt gọi là bà chúa Ngọc, Bà Đen hay Thiên Y Thánh Mẫu A Na) để chỉ chung cả công trình, chính xác hơn là chỉ ngọn tháp lớn nhất, cao khoảng 23 mét.

Để nói rõ hơn về nữ vương Po Ina Nagar (tiếng Chăm gọi là Yang Ponagara, còn theo tiếng Việt gọi là bà chúa Ngọc, Bà Đen hoặc Thiên Y Thánh Mẫu An) thì người Chăm trương tuyền bà là vị nữ thần được tạo nên bởi áng mây trời và bọt biển.

Chính vị nữ thần này đã tạo dựng ra trái đất, sản sinh ra nhiều gỗ quý, cây cối và lúa gạo. Đặc biệt, bà là người có 97 người chồng, tuy nhiên trong đó chỉ một mình Po Yan Amo là người có uy quyền và được tôn trọng hơn cả.

Đến nay, tuy chưa có một truyền thuyết nào nói về số lượng con cái của Yang Ponagara. Thế nhưng, theo truyền thuyết dân gian của người Chăm truyền tai nhau thì Yang Ponagara có 38 người con gái, tất cả đều hóa thân thành nữ thần.

Trong đó có ba người được người Chăm chọn làm thần bảo vệ đất đai và còn thờ phụng cho tới ngày nay là Ponagar Dara – nữ thần Khauchra (Khánh Hòa), Po Rarai Anaih – nữ thần Panduranga (Ninh Thuận) và Po Bia Tikuk – nữ thần Manthit (Phan Thiết).

Cũng theo truyền thuyết, tượng bà Thiên Y Thánh Mẫu Ana là tượng theo tín ngưỡng phồn thực của người Chăm cho nên không có quần áo. Nhưng sau nhiều biến cố lịch sử, tượng Bà Ponagar hiện nay được người Việt Nam sử dụng và đã cho nữ thần ăn mặc theo kiểu Phật.

Trong kháng chiến chống Pháp, người Pháp đã chặt đầu và lấy đem về nước, ngày này, bức tượng bà vẫn còn đó nhưng đầu bà đã được làm lại bằng xi măng.

Tháp Bà Po Nagar và kiến trúc đẹp không tỳ vết

Trải qua hơn 1000 năm xây dựng, đã nhiều lần bị phá hủy, rồi xây lại, rồi lại bị phá hủy rồi trùng tu lại. Đến nay đền tháp Bà Po Nagar vẫn còn tương đối nguyên vẹn so với nhiều công trình đền tháp khác đang tọa lạc tại tỉnh thành Duyên hải miền Trung.

Đặc biệt đền tháp Po Nagar vẫn thể hiện đầy đủ nét nghệ thuật huyền bí trong phong cách, kiến trúc của người Champa xưa.

Tổng thể kiến trúc tầng giữa đền tháp Bo Nagar

Cụ thể, tổng thể kiến trúc tháp được xây dựng theo 3 tầng, gồm tầng thấp, tầng giữa và tầng trên cùng. Trong đó, tầng thấp của tháp ngang với mặt đất rộng với điểm nhấn của nhiều công trình nhỏ, đặc biệt là ngôi tháp cổng. Tuy nhiên, do bị tàn phá bởi chiến tranh nên tháp cổng dưới tầng tháp đã hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại dấu tích.

Qua tầng tháp và tiếp tục đi lên những bậc tam cấp là tầng giữa, hay còn gọi là Mandapa. Tổng thể kiến trúc tháp tại tầng giữa gồm tháp Mandapa dài 20m, rộng 15m với 4 hàng cột bát giác có 10 cột lớn và 12 cột nhỏ. Trên thân các cột lỗ lớn là các lỗ mộng khoét sâu vào thân cột, đối xứng ngang bằng với các cột nhỏ. Chính giữa tầng tháp Mandapa nhìn thẳng còn có một dãy bậc thang bằng gạch dốc hơn dẫn lên tầng trên cùng.

Tuy nhiên, cũng vì lâm vào cảnh chiến tranh đã phần nào hư hỏng nặng và không thể nào dùng làm đường đi chính lên tháp được nữa mà thay vào đó là lối đi phụ bằng bê tông hướng bên sông Cái.

Thế nhưng, dựa vào căn cứ của các cấu trúc này thì các nhà nghiên cứu cho rằng đây từng là một tòa nhà rộng lớn có mái ngói, dùng làm nơi để khách hành hương nghỉ giải lao và sắm sửa lễ vật trước khi lên dâng cúng ở các điện bên trên.

Kiến trúc tần trên đền tháp Po Nagar

Qua tầng giữa là đến tầng trên cùng của tháp, là nơi quy nhiều công trình đền tháp được xây dựng hoàng toàn theo kiểu cách, kiến trúc Chăm.

Cũng như bao công trình đền tháp Chăm khác. Các công trình đền tháp tại tầng trên của tháp Bà Po Nagar được xây dựng rất khít với nhau, đặc biệt là lòng tháp rỗng tới đỉnh, cửa tháp quay về hướng đông, mặt ngoài thân tháp có nhiều gờ, trụ, đấu.

Không những vậy, trên đỉnh các trụ, thường đặt gạch trang trí hoa văn hình vòm tháp, trông như chiếc tháp nhỏ đặt lên một tháp lớn. Thú vị hơn cả là có nhiều tượng và phù điêu bằng đất nung, trong đó có hình Ponagar, thần Tenexa, các tiên nữ, các loài thú như nai, ngỗng vàng, sư tử… Những điều này thể hiện rất rõ về thời kỳ Champa tiếp thu mạnh mẽ Hindu giáo (Ấn Độ giáo) với đấng thần tối cao là nữ thần có hình dạng của Uma, vợ của Shiva.

Trong số những công trình đền tháp trong tầng trên thì ấn tượng nhất là ngôi tháp chính (tháp Bà) cao khoảng 23 mét được xây 4 tầng, mỗi tầng đều có cửa, tượng thần và hình thú bằng đá, ở 4 góc có 4 tháp nhỏ.

Bên trong là tượng nữ thần (cao 2,6 m) tạc bằng đá hoa cương màu đen (trước đó là gỗ trầm hương, và xa hơn nữa là bằng vàng) ngồi trên bệ đá uy nghiêm hình đài sen, lưng tựa phiến đá lớn hình lá bồ đề. Có thể nói, đây là một kiệt tác về điêu khắc Chămpa, là sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật tượng tròn và chạm nổi.

Một góc cụm đền tháp Po Nagar

Tiếp tục quan sát ngôi tháp chính theo hướng từ dưới chân lên định tháo chính là sự hiện hữu cả thần Shiva đang cưỡi bò thần Nandin. Xung quanh thần Siva là các tượng linh vật như chim thiên nga, dê, voi… cùng với đó là bức phù điêu khắc hình những vũ công, người chèo thuyền, xay gạo, đi săn với cung tên, giáo gậy.

Chưa dừng lại, ngôi tháp chính còn ấn tượng với những cửa ra vào mà trong đó cửa chính phía đông dẫn vào tiền sảnh được khắc truyền ký đỡ một phiến đá hình thuẫn khắc nữ thần Durga đang múa cùng các nhạc công là một điển hình.

Bên trong tháp tối và lạnh. Cuối tháp có một bệ thờ bằng đá bên dưới tượng Bà Ponagar với mười cánh tay. Hai bàn tay dưới đặt trên hai đầu gối, các bàn tay khác thì cầm những vật dụng như đoản kiếm, mũi tên, chùy …

Vì là đền tháp được xây dựng trong nhiều thế kỷ và thường xuyên bị chiến tranh tàn phá nên đền tháp bị hư hại nặng. Vào thời Pháp thuộc, trường Viễn Đông Bác Cổ đã tổ chức tu bổ lại nhiều phần và đắp một số tượng lên thân tháp. Tuy nhiên, do không được bảo vệ nghiêm ngặt nên trong thời kỳ chiến tranh, nhiều hiện vật giá trị bị mất cắp.

Năm 1979, Bộ Văn Hóa Thông Tin nay là Bộ Văn Hóa Thể Thao & Du Lịch đã công nhận công trình kiến trúc đền tháp Bà Ponagar là di tích cấp quốc gia.

Truyền thuyết về Thánh Mẫu Thiên Y Ana và hoàng tử Bắc Hải

Truyền thuyết Thánh mẫu Thiên Y Ana (Mẹ xứ sở Yang Po Inư Nagar – Po Nagar)

Không chỉ là đền tháp có phong cách kiến trúc tuyệt hảo và được quý như minh chứng lịch sử Champa vùng Khauchra mà đền tháp Bà Po Nagar còn gắn liền với nhiều câu chuyện, truyền thuyết lý thú.

Theo đó, truyền thuyết xưa kể lại rằng: “Lúc bấy giờ tại núi Đại An (Đại Biển) có hai vợ chồng tiều phu đến cất nhà, trồng dưa tại nơi triền núi. Suốt một thời gian dài, hễ cứ trái dưa nào chín là mất mà không hiểu lí do vì sao. Một hôm, ông lão rình và bắt gặp một cô bé khoảng 10 tuổi đang hái dưa rồi vui đùa dưới ánh trăng. Thấy cô bé dễ thương, xinh xắn, ông liền đem về nuôi và thương yêu như con ruột.

Một hôm, trời mưa to gió lớn, cảnh vật tiêu điều. Buồn bã, cô bé lấy đá chất thành ba hòn dã sơn rồi hái hoa cắm lên để ngắm. Ông lão vô tình thấy được thì giật mình vì nghĩ hành vi này của con không hợp với khuê tắc nên đã la rầy cô bé.

Bị cha mắng, cô bé tủi thân bèn đi ra đầu nhà, đứng khóc một mình. Nhân lúc không ai để ý, cô lén men theo những dải đất cao đi ra phía bờ biển. Vô tình lúc ấy, dập dềnh bên mé nước có một cây gỗ kỳ nam, không biết trôi từ đâu đến. Cô bé ngồi buồn, nhìn khúc kỳ nam ríu rít khóc vì cô đơn, bỗng đâu khúc gỗ tùng làn khói trắng và hút cô bé vào.

Sóng vỗ dập dềnh, nước trôi lênh đênh lần lần đưa khúc gỗ ra ngoài biển rồi trôi dạt lên phương Bắc.

Vì bận việc nhà nên không để ý, tưởng con khóc rồi đi ra ngoài chơi nên không quan tâm. Đến mãi sau, khi lên tiếng gọi thì chẳng thấy đâu. Hai ông bà hốt hoảng đi tìm khắp nơi nhưng vẫn bạc vô âm tín.

Hai ông bà đến gần bờ sông, nơi ruộng dưa nhà ông bà mà cô bé thường hay hái và đùa giỡn. Lạ thấy, ngày hôm ấy nước sông bỗng dưng dâng cao và chảy mạnh ra biển nên ông bà nghĩ con bị trượt chân đã trồi ra biển mất rồi. Thế là ông bà gào thét, khóc than thảm thiết, sau đó làm lễ cúng chay cho con và từ đấy trở đi, ông bà sống âm thầm cho đến cuối đời.

Ngày tháng lặng lẽ trôi qua, khúc kỳ nam trôi mãi, trôi mãi cả ngàn dặm đường. Cho đến khi sóng lặng gió yên, những cơn sóng đã vô tình đưa khúc kỳ nam trôi dạt vào bờ biển ở phương Bắc và tỏa ngát hương thơm khiến người ta nhìn thấy ai cũng hiếu kỳ.

Thấy vậy, dân trong vùng kêu trai tráng xuống khiêng lên xem thử nhưng cố hết sức cũng không nhấc nổi.

Câu chuyện kỳ lạ thành tin đồn lan truyền gần xa. Làm ngày này qua ngày nọ, người dân kéo đến xem nhiều hơn. Cũng trong lúc đó, hoàng tử Bắc Hải đang đi chu du đến làng biển này thì nghe tin về khúc gỗ. Cũng hiếu kỳ, ngài liền chạy đến và giơ tay nhấc thử, ai ngờ khi hoàng chạm tay vào thì khúc gỗ nhẹ như tờ giấy. Hỏi qua dân làng, hoàng tử Bắc Hải xin đem về kinh để làm báu vật, trưng bày trong cung.

Một đêm dưới ánh trăng mờ, hoàng tử bỗng thấy trong khúc kỳ nam biến ra một cô gái nhan sắc tuyệt trần. Ngay lập tức, hoàng tử bị cuốn ngay. Hoàng tử vội chạy đến xem thử thì tứ bề vắng vẻ như chưa có chuyện gì xảy ra. Và từ đó, tối hôm nào hoàng tử cũng ngồi canh để mong gặp lại cô gái đó.

Đợi chờ mãi rồi cũng đến, cô gái có sắc đẹp tuyệt trần lại đi ra từ khúc kỳ nam thì bất ngờ bị hoàng tử ôm chặt lấy cô làm cô không kịp biến vào khúc kỳ nam. Sau một lúc trò chuyện, hoàng tử Bắc Hải mới ngỡ cô là Thiên Y Ana.

Vốn đã rung động trước lần gặp đầu tiên, nay được chạm và thấy thực tế. Bắc Hải đem lòng yêu thương say đắm rồi chàng quyết định xin vua cha cho lấy Ana làm vợ. Thế là một đám cưới được tổ chức linh đình.

Khoảng vài năm sau, Ana và hoàng tử Bắc Hải đã có với nhau hai người con (một nam, một nữ) mặt mũi người nào cũng khôi ngô tuấn tú.

Sống nơi đất khách, nỗi lòng nhớ quê, nhớ cha mẹ dâng trào làm Ana muốn về thăm nhưng không sao đi được. May thay, đang bối rối thì nghe tin hoàng tử Bắc Hải được vua cha giao nhiệm vụ đi kinh lý.

Thế là ngay lập tức, Ana dẫn hai con về chốn xưa thăm quê hương, cha me. Nhưng nghiệt ngã thay, núi Đại An còn đó mà cha mẹ nàng đã về với cõi âm. Buồn lòng hồi lâu, Thiên Y Ana cùng hai con xây đắp mồ mả cho cha mẹ rồi sửa sang lại nhà cửa để thờ phụng.

Chuyện buồn làm nàng không muốn trở về kinh đô để sinh sống với hoàng tử Bắc Hải. Nàng cùng  hai con quyến định ở lại để chỉ cho nhân dân cách cày cấy, dệt sợi, kéo vải… và đặt ra các lễ nghi. Chỉ trong thời gian ngắn, cuộc sống người dân nơi núi Đại An được thay đổi, ai cũng ăn no mặc ấm. Đến một ngày, có con chim hạc to  lớn từ trên trời bay xuống. Nó đảo một vòng rồi ngồi xuống cho Thiên Y Ana cùng hai leo lên lưng cưỡi bay về trời.

Nhân dân nơi đây nhớ ơn bà, nên đã xây tháp thờ phụng và hằng năm vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, đều làm lễ dâng hoa tưởng niệm.

Tưởng đâu câu chuyện đã kết thúc tại đây. Nào ngờ, khi hoàng tử Bắc Hải trở về sau chuyến kinh lý, thấy vợ và hai con biến mất mà chẳng ai hay. Chàng vội cùng một số giai nhân, binh lính lên thuyền xuôi về phương Nam để tìm vợ và hai con. Chưa tìm được vợ và hai con thì thuyền đi đến cửa biển Đại An gặp trận cuồng phong, tất cả đều bị chôn vùi dưới đáy biển.

Tại nơi chìm thuyền của hoàng tử Bắc Hải sau này mọc lên những mô đá nhỏ có nhiều chữ nổi kỳ lạ mà không ai có thể dịch và đọc được. Nhiều người cho rằng, chắc đây là những chữ mà Thiên Y Thánh Mẫu A Na đã viết cho hoàng tử Bắc Hải nên chỉ có hoàng tử mới đọc được.

Lễ hội tháp Bà Po Nagar


Lễ hội tháp Bà Po Nagar

Thông thường hàng năm, cứ đến ngày ngày 21 tháng 3 âm lịch chính quyền địa phương phối hợp với sở văn hóa thể thao và du lịch tổ chức “Lễ hội Tháp Bà Ponagar”. Thời gian diễn ra lễ hội sẽ bắt đầu từ ngày 21 đến ngày 23 âm lịch.

Tuy nhiên, có một điều khác biệt về lễ hội Tháp Bà Po Nagar ở Nha Trang này không chỉ dành riêng cho đồng bào người Chăm mà còn dành cho người Việt. Điều này khác biệt hoàn toàn với một số lễ hội khác của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận trên các đền tháp như Kate (lễ tưởng nhớ những người đã khuất), Yor Yang (lễ chuyển mùa), Cabbur (Lễ tưởng nhớ mẹ xứ sở), lễ mở cửa tháp  …

Trình tự, lễ hội tháp Bà Po Nagar sẽ diễn ra với các nghi thức chính gồm: lễ thay y phục, lễ thả hoa đăng, lễ cầu quốc thái dân an … Cụ thể, …

  • Lễ thay y phục: nghi lễ này được tiến hành đúng giờ Ngọ ngày 20 tháng 3. Trước khi bắt đầu, vị chủ tế dâng trầm hương, nhang, hoa, trái cây và khấn vái. Sau đó, các thành viên trong đội thay y thực hiện việc sắp xếp đồ lễ trong dinh và cởi xiêm y, mũ miện để tắm tượng. Đặc biệt, nước dùng để tắm tượng được nấu từ rượu với nước và các cánh hoa có mùi thơm (5 loại) …
  • Lễ thả hoa đăng: nghi lễ này được diễn ra từ 19 giờ đến 21giờ ngày 20 tháng 3. Lễ sau khi thực hiện song, nến và hoa sẽ được thả trên sông để cầu siêu cho các vong linh, với hơn mười ngàn chiếc hoa đăng nhỏ và năm hoa đăng lớn …
  • Lễ cầu quốc thái dân an: nghi lễ này bắt đầu từ 6 giờ đến 8 giờ ngày 21 tháng 3. Riêng nghi thức này sẽ do Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Khánh Hòa thực hiện.
  • Lễ cúng Ngọ, cúng thí thực: nghi lễ này diễn ra từ 12 giờ đến 12 giờ 30 ngày 21 tháng 3 tại ngôi tháp chính. Chủ yếu là để dâng Mẫu và bố thí cho các cô hồn.
  • Tế lễ cổ truyền: nghi lễ này diễn ra từ 4 giờ đến 6 giờ ngày 23 tháng 3, do các cụ hào lão đình Cù Lao dâng lễ theo nghi thức cổ truyền, rất trang nghiêm.
  • Lễ Khai Diên, lễ Tôn Vương: diễn ra từ 6 giờ đến 9 giờ ngày 23 tháng 3. Sân lễ được dựng trước Mandapa (tiền đình), mặt hướng vào điện thờ Đức Thánh Mẫu.
  • Lễ Dâng hương tạ Mẫu: diễn ra từ 23 giờ đến 24 giờ ngày 23 tháng 3, để dâng hương đăng lễ tạ Mẫu.
  • Lễ Dâng hương tạ Mẫu: diễn ra từ 23 giờ đến 24 giờ ngày 23 tháng 3, để dâng hương đăng lễ tạ Mẫu.

Trong quá trình diễn ra các nghi lễ, có một nghệ thuật gọi là múa Bóng và hát Chầu Văn. Múa Bóng và hát Chầu Văn này được xem là linh hồn của lễ hội tháp Bà Ponagar.

Tuy thời gian lễ hội chỉ diễn ra trong 2 ngày nhưng thu hút rất đông bà con tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên như Đà Nẵng, Quảng Nam, Phú Yên, Đắc Lắc, Gia Lai, Lâm Đồng, Thừa Thiên – Huế … đến tham gia. Qua đó thể hiện nhiều ý nghĩa thiết thực về tính đoàn kết giữa hai nền văn hóa Việt – Chăm. Quan trọng hơn cả, lễ hội là dịp để bà con trở về với cội nguồn, trở về với quê hương, với dân tộc. Từ đó bồi đắp, lưu truyền và truyền bá những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp cho các thế hệ mai sau.

Thông tin tham quan Tháp Bà Po Nagar 2019: giá vé, giờ mở cửa

  • Địa chỉ: Tháp Bà Ponagar – đường 2 tháng 4 – phường Vĩnh Phước – thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh Hòa.
  • Thời gian: 7h00 – 17h30 hàng ngày.
  • Giá vé: 22,000 vnđ/ người.
Tháp Bà Po Nagar – Kinh nghiệm tham quan (2019)
5 (100%) 1 vote[s]

Đâu đó tôi đã từng nghe một câu nói vô cùng nổi tiếng của một nhà viết tiểu luận, một nhà thơ, một nhà triết gia người Mỹ khi ông nói về những chuyến đi: ”Đừng quá nhút nhát và đắn đo trong hành động. Cuộc sống là thử nghiệm”.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here